Chăn nuôi “An toàn sinh học” hướng đi cũ mà mới
Chăn nuôi an toàn sinh học là các biện pháp (bao gồm cả kỹ thuật và quản lý) nhằm ngăn ngừa và hạn chế sự lây nhiễm của các tác nhân sinh học xuất hiện tự nhiên hoặc do con người tạo ra gây hại đến con người, vật nuôi và hệ sinh thái.
Hiện nay, ngành chăn nuôi Việt Nam nói chung hay ngành chăn nuôi tỉnh Điện Biên nói riêng đứng trước nhiều khó khăn thách thức như mô hình chăn nuôi manh mún, nhỏ lẻ còn rất phổ biến; dịch bệnh xuất hiện thường xuyên; giá thức ăn tăng cao; cạnh tranh về giá; chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm không đảm bảo và ô nhiễm môi trường. Tất cả những yếu tố trên đã làm giảm hiệu quả và tính bền vững của ngành chăn nuôi. Mặt khác, trước đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng sản phẩm chăn nuôi của người tiêu dùng, ngành chăn nuôi của tỉnh cần có hướng đi cụ thể cho sự phát triển an toàn và bền vững hơn.
Trước tình hình đó, được sự chỉ đạo của Sở Nông nghiệp và PTNT, Trung tâm phát triển chăn nuôi tỉnh Điện Biên đã phối hợp cùng UBND xã Mường Pồn tiến hành triển khai mô hình “Chăn nuôi ngan thịt an toàn sinh học” trong thời gian hơn 3 tháng từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2017. Ngoài mục đích tạo thêm nguồn thu nhập, nâng cao hiệu suất lao động cho các hộ dân còn khó khăn trên địa bàn xã, mục đích lớn hơn chính là giúp các hộ dân tham gia mô hình và cả các hộ dân trong, ngoài địa bàn xã nhận thức, hiểu và nắm được lợi ích từ việc chăn nuôi an toàn sinh học đối với bản thân và cộng đồng, từ đó thay đổi tư duy, phương thức chăn nuôi theo hướng tiên tiến hơn, từ đó thay đổi dần các phương thức chăn nuôi truyền thống.
Mô hình “Chăn nuôi ngan thịt an toàn sinh học” tại xã Mường Pồn, huyện Điên Biên
Qua 3 tháng triển khai, kết quả thu được là rất khả quan.
- Về nhận thức: Tại địa bàn đã có một số hộ chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học nhưng chưa thực sự hiểu rõ về khái niệm an toàn sinh học. Sau quá trinh triển khai mô hình, không chỉ các hộ dân được tham gia mà cả các hộ dân trong địa bàn xã đã nhận thấy được hiệu quả, lợi ích từ việc chăn nuôi có sự theo dõi, quản lý, chăm sóc phòng trừ dịch bệnh, xây dựng chuồng trại hợp lý. Nhiều hộ dân đã thay đổi tư duy chăn nuôi truyền thống từ chăn thả tự do, không chăm sóc quản lý, không tiêm phòng hay xử lý chất thải sang cải tiến chuồng trại, xử lý nguồn nước thải, chất thải, sử dụng vaccin đầy đủ cho gia cầm, cho ăn, uống khoa học hơn...
- Về kinh tế: Nếu như trước đây, với chăn nuôi truyền thống, tỷ lệ gia cầm chết do dịch bệnh, môi trường, có thể lên đến 70-80% tổng đàn (trong suốt thời gian chăm sóc), khối lượng, chất lượng đàn gia cầm thấp gây thiệt hại về kinh tế cho các hộ chăn nuôi. Việc chăn nuôi chỉ đáp ứng cung cấp nguồn thực phẩm cho hộ gia đình, không tạo thêm nguồn thu nhập. Với phương thức chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học tỷ lệ ngan chết thấp (3,6% ), khối lượng tăng nhanh trung bình đạt 2,8kg, mức tiêu tốn thức ăn thấp. Sau khi trừ các khoản chi phí mỗi hộ nông dân thu về trên 3 triệu đồng/quy mô 50 con. Đây là mức thu nhập khá so với mức thu nhập trùng bình của bà con trong xã.
- Về xã hội: không chỉ đem lại thêm nguồn thu nhập, lao động cho các hộ dân, mà thông qua mô hình các hộ dân có thêm cơ hội làm việc nhóm cùng nhau, thấy được hiệu quả của việc chia sẻ thông tin, kỹ thuật, từ đó tạo sự đoàn kết, tính cộng đồng giữa các hộ dân; không chỉ các hộ dân tham gia mô hình mà với cả các hộ dân trong và ngoài địa bàn xã. Việc chăn nuôi có hiệu quả đã thúc đẩy các hộ chăn nuôi tập trung phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa, nâng cao thu nhập, từ đó góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội.
- Về môi trường: mô hình đã bước đầu giúp người chăn nuôi trên địa bàn xã thấy được tầm quan trọng của việc vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi. Không chỉ ảnh hưởng lớn đến đàn gia súc, gia cầm mà đến ngay sức khỏe của bản thân và cộng đồng. Từ đó, có ý thức hơn trong quản lý môi trường chăn nuôi, phòng chống dịch bệnh chủ động cho vật nuôi, tạo những sản phẩm chăn nuôi theo hướng an toàn, chất lượng.
Sau hơn 3 tháng triển khai, mô hình đã thực sự để lại những dấu hiệu tích cực từ nhận thức của bà con nông dân đến kinh tế, xã hội và môi trường. Trong thời gian tơi, mô hình chăn nuôi an toàn sinh học nói chung và chăn nuôi ngan an toàn sinh học nói riêng rất cần được sự quan tâm, nhân rộng.