Bệnh cúm gia cầm và biện pháp phòng chống
1.Nguyên nhân gây bệnh:
Do nhóm vi rút cúm A thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra; nó được chia thành 3 typ A, B và C. Vi rút typ cúm A được chia thành các phân nhóm dựa vào 2 kháng nguyên bề mặt là H (16H) có vai trò trong việc gắn kết vào điểm cảm thụ giúp vi rút xâm nhập vào tế bào và N (9N) có vai trò giúp vi rút phóng thích khỏi tế bào vật chủ, có tác dụng trên niêm mạc đường hô hấp giúp vi rút dễ xâm nhập vào tế bào biểu mô lớn. Như vậy tổ hợp lại thì có khoảng 144 nhóm vi rút cúm A khác nhau.
2. Đường lây truyền:
- Khi gia cầm bị bệnh, vi rút nhân lên trong đường hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục. Sự lây truyền theo 2 phương thức trực tiếp, gián tiếp:
+ Trực tiếp: do con vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh thông qua các chất tiết.
+ Gián tiếp: qua phân, thức ăn, nước uống bị nhiễm hoặc dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển nhiễm mầm bệnh….
+ Chim hoang dã có khả năng mang mầm bệnh và gieo rắc mầm bệnh khắp nơi, là nguồn gốc gây ra các trận dịch cúm gia cầm.
3. Sức đề kháng của vi rút:
Vi rút có lớp vỏ là lipid nên dễ bị bất hoạt bởi các chất như fomaldehyde, natri hypochlorite 5,25%, axit loãng….; ở nhiệt độ 60o c vi rút bị mất độc tính trong vài phút; 100o c vi rút bị chết ngay; ngoài tự nhiên vi rút có thể sống 105 ngày trong dịch tiết; trong phân: 30-35 ngày ở 4o c; thịt để tủ lạnh vi rút tồn tại được 23 ngày.
4. Phân bố dịch bệnh:
Vi rút phân bố khắp thế giới trong các loài gia cầm, dã cầm, động vật có vú; Loài mắc bệnh: tất cả các loại gia cầm như gà tây, vịt, ngan, ngỗng, chim cút, đà điểu, chim cảnh, chim hoang dã đều mắc bệnh.
5. Triệu chứng của bệnh:
- Triệu chứng và bệnh tích trên gà:
+ Triệu chứng: thời gian ủ bệnh từ 1-3 ngày; gia cầm chết đột ngột, có khi tỷ lệ lên đến 100%; gà thường sốt cao, ủ rũ, bỏ ăn, giảm đẻ, tụ lại thành từng đám, lông xơ xác; Vùng da không có lông xuất huyết (da chân, mào, tích); Chảy nước mũi, dịch mũi nhày màu xám, khò khè, hắt hơi, chảy nước mắt, viêm kết mạc; Sưng phù đầu, mào tích sưng; Con vật có triệu chứng thần kinh, co giật, mất thăng bằng, vận động xoay tròn; tiêu chảy (phân trắng loãng hoặc trắng xanh).
+ Bệnh tích: quan sát thấy phần da chân, mào, tích xuất huyết; khi mổ khám thấy được phổi sung huyết trầm trọng, lách sưng to; dạ dày tuyến, van hồi manh tràng, niêm mạc hậu môn xuất huyết (nhưng không xuất huyết ở đỉnh ống tuyến như bệnh niu cát xơn); xuất huyết mỡ bụng, mỡ bao tim, màng treo ruột, niêm mạc khí quản, gan xung huyết, phù nề có điểm hoại tử.

Mào, tích phù nề, xuất huyết

Cơ đùi xuất huyết (bệnh Gumboro cũng xuất huyết cơ đùi)

xuất huyết khí quản

xuất huyết da chân
-Triệu chứng và bệnh tích trên vịt:
+ Triệu chứng: thể hiện nhẹ hơn gà; đa phần vịt mang trùng không biểu hiện triệu chứng và chết thể cấp tính với biểu hiện thần kinh, co giật
+ Bệnh tích: viêm nhẹ mí mắt và xuất huyết nội quan.
- Triệu chứng của các loại gia cầm khác: các loại như chim cút, ngan, ngỗng chỉ thể hiện ủ rũ và chết đột ngột với tỷ lệ cao.
6. Các biện pháp để phòng, chống dịch bệnh cúm gia cầm:
6.1. Phòng bệnh trên đàn gia cầm:
- Chăm sóc và nuôi dưỡng đàn gia cầm tốt: con giống gia cầm được nhập từ cơ sở uy tín, rõ nguồn gốc; gia cầm mua về trước khi nhập đàn phải nuôi cách ly (nuôi tân đáo nếu trong trang trại, gia trại nuôi nhiều đàn, nhiều lứa khác nhau) từ 2-3 tuần để theo dõi trước khi cho nhập đàn; thực hiện việc “cùng vào, cùng ra” trong một khu vực chăn nuôi; sử dụng thức ăn đảm bảo chất lượng (không dùng thức ăn ôi thiu, nấm, mốc, không rõ nguồn gốc); nước uống phải đảm bảo vệ sinh; thường xuyên theo dõi sức khỏe của đàn gia cầm để chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh.
- Thực hiện tiêm phòng vắc xin theo hướng dẫn của cơ quan thú y: tiêm phòng vắc xin là biện pháp phòng bệnh nhân tạo chủ động mang lại hiệu quả cao. Vì vậy cần định kỳ tiêm phòng cho đàn gia cầm của gia đình (trên địa bàn tỉnh Điện Biên ở khu vực thành phố Điện Biên Phủ và 12 xã lòng chảo huyện Điện Biên là khu vực có mật độ chăn nuôi gia cầm lớn, hàng năm thực hiện tiêm phòng 02 đợt).
- Vệ sinh tiêu đôc khử trùng chuồng trại chăn nuôi: trong quá trình chăn nuôi cần thường xuyên dọn dẹp vệ sinh chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi để giảm lượng vi sinh vật gây hại lưu cữu; định kỳ phun vệ sinh tiêu độc khử trùng để tiêu diệt mầm bệnh (trước khi phun vệ sinh tiêu độc khử trùng cần dọn dẹp chuồng trại sạch sẽ (trên địa bàn tỉnh Điện Biên hàng năm thực hiện 02 đợt phun vệ sinh tiêu độc khử trùng theo phát động của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn).
4.2. Phòng bệnh lây sang người:
Khi tiếp xúc với đàn gia cầm cần dùng đồ bảo hộ (găng tay, khẩu trang), sau đó cần rửa tay bằng xà phòng; nên ăn chín, uống sôi, không ăn thịt tái, sống, tiết canh; không sử dụng gia cầm chết, bệnh làm thực phẩm; tuân thủ vệ sinh an toàn thực phẩm. Mỗi người cần nâng cao sức đề kháng của cơ thể như chế độ dinh dưỡng cần được đảm bảo đủ cả số lượng và chất lượng.
5. Điều trị bệnh trên gia cầm:
-Gia cầm bị tiêu hủy trong những trường hợp:
+ Đàn gia cầm phát hiện mắc bệnh, chết, có dấu hiệu mắc bệnh Cúm gia cầm thể độc lực cao;
+ Đàn gia cầm nuôi thả rông xung quanh mà chưa được tiêm phòng vắc xin cúm và đã tiếp xúc với đàn gia cầm mắc bệnh hoặc tiếp xúc với đàn gia cầm có dấu hiệu mắc bệnh Cúm gia cầm thể độc lực cao
+ Việc tiêu hủy gia cầm phải được thực hiện ngay khi có kết quả xét nghiệm dương tính với vi rút cúm A/H5N1 hoặc vi rút cúm AH5N6 hoặc chủng vi rút có khả năng truyền lây bệnh và gây tử vong cho người hoặc được cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương kiểm tra xác minh và kết luận là mắc bệnh cúm gia cầm.